Nguyễn Huy Tự (1743-1790)

18/01/2019

Nguyễn Huy Tự còn có tên là Yên, tự Hữu Chi, hiệu Uẩn Trai sinh ngày rằm tháng bảy năm Quý Hợi (1743) trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, xứ Nghệ An (nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tỉnh).


Di tích lịch sử Quốc gia Đền Thờ dòng họ Nguyễn Huy Tự

 

Ông là một người văn võ toàn tài, có nhiều công lao đóng góp cho quê hương, đất nước trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động nửa cuối thế kỷ 18.

Thân sinh ông là một đại thụ trong vườn văn hoá Hồng Lam, nhà văn, nhà sử học lỗi lạc, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh. Năm 1759, mới 17 tuổi ông đỗ thứ 5 khoa thi Hương trường Nghệ. Là người thức thời và nhạy cảm nên chỉ một thời gian làm cận thần triều Lê, Nguyễn Huy Tự đã từ bỏ áo quan theo nhà Tây Sơn, được tiến giữ chức Hữu tham tri bộ Binh, cùng vua Quang Trung phù lê diệt Trịnh và đại phá quân Thanh.

Năm 1767, ông nhậm chức Hồng lô tự thừa. Năm sau (1768), cử ông làm Tri phủ Quốc Oai. Năm 1770, ông thi Hội trúng Tam trường, được bổ làm Hiến sát phó sứ xứ Sơn Nam. Năm 1774, Nguyễn Huy Tự xin cải bổ sang võ ban, được cử làm Quản binh. Năm 1778, thăng ông làm Trấn thủ Hưng Hóa, trực tiếp giữ đồn Bách Lẫm.

Năm 1779, ông được đặc cách làm Tiến triều ứng vụ, tiếp đó là Hiệp lý lương hướng Sơn-Hưng-Tuyên, rồi Đốc đồng Hưng Hóa. Ở đây, ông cùng với cha vợ là Nguyễn Khản, và chú vợ là Nguyễn Điều đánh dẹp được cuộc nổi dậy của Hoàng Văn Đồng ở vùng mỏ Tụ Long. Vì có quân công, ông được Tổng đốc Quảng Tây (nhà Thanh) tặng 4 chữ “Võ khố hùng lược”.

Năm 1781, ông được phái làm Khâm sai Giám đằng kiêm ấn quyển ở khoa thi Hội. Năm 1782, đổi ông làm Thanh hình hiến sát sứ Sơn Tây, rồi Đốc đồng Sơn Tây, Hàn lâm viện hiệu lý, tước Uẩn Đình hầu. Cũng trong năm này, ở kinh đô Thăng Long có loạn kiêu binh. Vương triều và đất nước cùng lâm vào cảnh rối ren, loạn lạc. Nhân có tang mẹ, Nguyễn Huy Tự xin về chịu tang (1784) và ở hẳn ở nhà không ra làm quan nữa. Về lại Trường Lưu, ông giúp cha (Nguyễn Huy Oánh) chăm lo cho Phúc Giang thư viện.

Năm 1790, ông được vua Quang Trung triệu tới Phú Xuân. Ông nhận lời làm Hữu thị lang cho nhà Tây Sơn. Nhưng liền sau đó, ông mắc trọng bệnh và mất ngày 27 tháng 7 năm 1790 tại Phú Xuân, lúc 47 tuổi, thụy là Thông Mẫn.

Về mặt văn học, Nguyễn Huy Tự để lại cho đời một tác phẩm rất có giá trị, đó là “Truyện Hoa Tiên”. Truyện Hoa Tiên là thiên tình sử đẹp của đôi trai gái đại quý tộc Lương Phương Châu, Dương Dao Tiên. Truyện có 59 hồi, 1860 câu thơ lục bát viết bằng chữ Nôm, mở đầu thể loại thơ lục bát viết bằng chữ Nôm ở nước ta. Sự thành công của truyện Hoa Tiên đã nâng Nguyễn Huy Tự vào vị trí xứng đáng trong hàng ngũ các nhà thơ cổ điển – danh nhân văn hoá của đất nước.

Thời gian về ở ẩn, Nguyễn Huy Tự cùng với thân sinh là Đình nguyên Thám Hoa Nguyễn Huy Oánh lập nên “Phúc Giang thư viện” - một công trình văn hoá nổi tiếng tại làng quê, là nơi lưu trữ và in ấn hàng vạn bản sách cổ Tứ thư ngũ kinh, các thể loại văn thơ cổ kim cho con cháu học hành và cho văn nhân đến nghiên cứu. Đây vừa là một thư viện cổ còn lưu giữ được cho đến ngày nay, vừa là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước.

Trong hơn 20 năm làm quan, dù “thạo phép dùng binh, giỏi việc án từ”, Nguyễn Huy Tự cũng không để lại dấu ấn gì đậm nét ngoài việc đã thức thời bỏ quan về rồi ra giúp triều Tây Sơn. Nhưng là một nho sĩ ông đã nêu tấm gương rèn luyện để đạt đến học vấn uyên bác “ưu thông số thuật, quốc âm, thanh luật kỹ nghệ gì cũng tinh tuyệt”.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm

Các tin đã đưa ngày: